Năm 2014
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc lưỡng cực
BSCKII. NGÔ THANH HÒA

 Nghiên cứu  đặc điểm lâm sàng

rối loạn cảm xúc lưỡng cực

   I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn cảm xúc là một bệnh phổ biến đứng hàng thứ hai trong các rối loạn tâm thần, chiếm trên 10% tỷ lệ rối loạn cảm xúc trong dân số ở các nước châu Âu, châu Mỹ. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (RLCXLC) rất thường gặp trong các rối loạn cảm xúc với tỷ lệ khoảng 0,5% dân số. Tỷ lệ mắc bệnh RLCXLC nghiên cứu ở các nước gần giống nhau: ở Los Angeles, Karno và cộng sự (1987) tỷ lệ RLCXLC là 1%. Tại New Zealand, Wells và cộng sự (1989) cho thấy tỷ lệ RLCXLC là 0,7%. Nghiên cứu tại Hàn quốc, Lee và cộng sự (1990) đã đưa ra tỷ lệ rối loạn lưỡng cực là 0,4% [9]. Ở Liên Xô (cũ) 0,4%, Anh (Slater) 0,4%, Pháp 0,5%. Ở Việt Nam chưa có tỷ lệ thống kê về bệnh này, theo Trịnh Ngọc Tuấn (2002), tỷ lệ bệnh RLCXLC được điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần năm 2001 là 8,7% tổng số bệnh được điều trị nội trú [3].

RLCXLC là một bệnh tâm thần nội sinh xuất hiện có tính chất chu kỳ với các cơn hưng cảm và trầm cảm xen kẽ nhau. Giữa các cơn là giai đoạn bình phục; tâm thần trở lại gần như bình thường trong khoảng thời gian từ vài tháng đến nhiều năm. Nhưng càng về sau, tần số cơn càng tăng, khoảng thời gian ổn định càng ngắn lại, gây những hậu quả nặng nề cho bệnh nhân và gia đình... Bệnh tuy là nội sinh nhưng thường có thể xuất hiện sau các sang chấn tâm lý như thất tình, tang tóc, căng thẳng tâm lý hay vui quá…

Khi bị RLCXLC giai đoạn trầm cảm, dòng suy nghĩ trở nên chậm chạp, ức chế, nói ít, giọng đều đều đơn điệu, có khi không nói. Có ý tưởng tự ti, tự buộc tội, có ý nghĩ tự sát... Nếu RLCXLC là giai đoạn hưng cảm thì ngược lại: dòng tư duy nhanh, suy nghĩ dễ dàng, liên tưởng mau lẹ, nói luôn miệng, tự đánh giá cao bản thân, có nhiều ý tưởng kế hoạch làm ăn cải cách, coi thường người khác... BN hoạt động không biết mệt mỏi, trêu đùa trơ trẽn, chi tiêu hào phóng; ít ngủ, gây huyên náo ầm ĩ; tăng tình dục; gây gổ đánh lộn khi bị cản trở... Các cơn trầm cảm và hưng cảm thường xảy ra với những cường độ khác nhau từ nhẹ, vừa đến nặng, phụ thuộc vào loại cơn, thời gian tiến triển, điều trị...

Do mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng RLCXLC đã ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về hình thái lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và nguy cơ tái phát. Cho đến nay ở nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về dịch tễ, đặc điểm lâm sàng của RLCXLC. Do vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Với mục tiêu nghiên cứu:

1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

2. Nhận xét về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái phát RLCXLC.

 II. ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tuợng nghiên cứu
            Nghiên cứu gồm 67 bệnh nhân chẩn đoán RLCXLC theo tiêu chuẩn ICD-10F (1992) được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang từ 6/2013 đến 6/2014.
            Loại trừ những bệnh nhân: Trầm cảm sau phân liệt. Rối loạn cảm xúc do căn nguyên thực tổn, nghiện chất.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
Trong điều kiện hiện tại, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu mô tả tiến cứu và nghiên cứu từng trường hợp.
            Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê Epi-info 6.04.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
* Đặc điểm chung về tuổi, giới
Bảng 3.1. Đặc điểm chung về tuổi
Nhóm tuổi
n (67)
%
<20
 
 
05
07,46
20 – 29
20
29,85
30 – 39
25
37,31
40 – 49
10
14,93
>50
07
10,45
 -  Nhóm tuổi từ 20 – 29 có tỷ lệ 29,85%; nhóm tuổi 30 - 39 có tỷ lệ cao nhất (37,31%); nhóm tuổi 40 – 49 chiếm tỷ lệ 14,93%; như vậy cả nhóm từ 20 – 49 chiếm tỷ lệ là 82,09% là độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất. Dưới 20 tuổi 07,46% và trên 50 tuổi là 10,45%.
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ bệnh nhân nam và nữ
            Nam giới (23) chiếm 34,33%; nữ (44) là 65,67% cao hơn nhiều so với nam giới.
 
Bảng 3.2. Đặc điểm trình độ học vấn, nghề nghiệp
Đặc điểm
Nhóm
n(67)
%
Trình độ học vấn
Tiểu học
04
05,97
THCS
26
38,81
THPT
22
32,83
Cao đẳng, đại học
15
22,39
Nghề nghiệp
Nông dân
24
35,81
Công nhân
07
10,44
Viên chức
12
17,91
HS-SV
08
11,94
Nghỉ hưu
02
02,99
Buôn bán
10
14,93
Nghề nghiệp khác
04
05,97

 -  Trình độ tiểu học: 05,97%, trung học cơ sở: 38,81%.

 -  Tỷ lệ bệnh nhân là nông dân là 35,81% và cán bộ nghỉ hưu là 02,99%.
*Tình trạng hôn nhân:
 
- Chưa kết hôn (là 37): 55,22%; đã kết hôn (là 30): 44,78%.
 
Bảng 3.3. Hoàn cảnh gia đình.         
                         Đặc điểm
n
%
Vợ chồng cùng chung sống
 
20
66,67
Ly thân
 
01
03,33
Ly hôn
 
07
23,33
      Goá
02
06,67
Tổng số
30
100,00

 

3.2. Đặc điểm lâm sàng

* Phân bố các thể bệnh theo giới:

Bảng 3.4. Phân bố các thể bệnh theo giới

 

Chẩn đoán

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

Hiện tại giai đoạn Hưng cảm nhẹ (F31.0)

01

01,49

00

00,00

01

01,49

Giai đoạn Hưng cảm không có triệu chứng loạn thần (F31.1)

07

10,44

11

16,42

18

26,86

Giai đoạn Hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (F31.2)

14

20,90

25

37,31

39

58,21

Giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (F31.3)

02

02,99

05

07,46

07

10,45

Hiện tại giai đoạn hỗn hợp (F31.6)

01

01,49

01

01,50

02

02,99

Tổng số

25

37,31

42

62,69

67

100,00

- Sự phân bố các thể bệnh RLCXLC trong số BN nghiên cứu cho thấy gặp chủ yếu với RLCXLC hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (F31.2) chiếm 58,21% (nam 20,90% và nữ 37,31%).

- Tiếp theo là RLCXLC hiện tại giai đoạn hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần (F31.1) chiếm tỷ lệ 26,86%. Tỷ lệ RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (F31.3) là 07 (lệ 10,45%).

- Hai thể bệnh RLCXLC hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (F31.0) 01,49% và hỗn hợp (F31.6) 02 bệnh nhân 02,99%. Không có RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần (F31.4) và các RLCXLC khác (F31.8).

3.2.1. Tuổi phát bệnh.

* Tuổi giới phát bệnh lần đầu:

Bảng 3.5. Phân bố tuổi, giới phát bệnh lần đầu

 

Giới

Nhóm tuổi

Tổng số

< 20

20 – 29

30 – 39

40 – 49

≥ 50

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Nam

05

21,74

06

26,08

07

30,43

04

17,39

01

04,35

23

100

Nữ

22

50,00

14

31,82

06

13,64

01

02,27

01

02,27

44

100

Tổng

27

40,30

20

29,85

13

19,40

05

07,46

2

02,99

67

100

- Tuổi phát bệnh lần đầu chủ yếu ở lứa tuổi trước 20 là 40,5%. Số BN phát bệnh ở tuổi > 50 chỉ có 1 trường hợp cho mỗi giới, tỷ lệ 2,99%.

- Có tới 47/67 bệnh nhân (70,15%) phát bệnh lần đầu ở lứa tuổi trước 30.

* Tuổi giới tái phát bệnh lần thứ hai:

 

Bảng 3.6. Phân bố tuổi, giới phát bệnh lần thứ hai

 

Giới

Nhóm tuổi

Tổng số

< 20

20 – 29

30 - 39

40 – 49

≥ 50

n

%

N

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Nam

03

13,04

08

34,78

05

21,74

06

26,09

01

04,35

23

100

Nữ

08

18,18

23

52,27

07

15,91

03

06,82

03

06,82

44

100

Tổng

11

16,42

31

46,27

12

17,91

09

13,43

04

05,97

67

100

-  Sự phân bố tuổi, giới phát bệnh lần hai cho thấy thời điểm phát bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 tuổi đến 29 tuổi cả hai giới nam (34,78%) và nữ  (52,27%). Tỷ lệ này giảm dần khi tuổi càng cao, nhóm trên 50 tuổi chỉ gặp 6,82% ở nữ  và 04,35% ở nam.

3.2.2. Số cơn đã mắc.

Bảng 3.7.  Đặc điểm số cơn đã mắc tính  đến  thời điểm nghiên cứu

Số cơn đã mắc

n

%

2

10

14,93

3

21

31,34

4

14

20,89

5

11

16,42

>5

11

16,42

Tổng số

67

100,0

 - Tính tới thời điểm nghiên cứu các BN RLCXLC đã mắc 3 cơn là nhiều nhất 31,34%

 - Số bệnh nhân mắc 4 cơn là 20,89%, những bệnh nhân mắc hai cơn chỉ gặp 14,93%, số bệnh nhân đã mắc trên 5 cơn chiếm tới 16,42%.

3.2.3. Ý tưởng và hành vi tự sát

Bảng 3.8. Đặc điểm ý tưởng và hành vi tự sát

 

Ý tưởng tự sát

Hành vi tự sát

Tổng số

Bằng thuốc

Thắt cổ

Cắt mạch máu

n

1

2

1

1

5

%

4,0

8,0

4,0

4,0

20,0

 - Trong 05 bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát có 02 bệnh nhân tự sát bằng thuốc. Mỗi bệnh nhân chỉ có hành vi tự sát một lần, tất cả các trường hợp này đều xảy ra ở giai đoạn trầm cảm trong quá khứ.

- Chỉ có 01 trường hợp có ý tưởng tự sát nhưng chưa có hành vi tự sát.

3.3. Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC giai đoạn hưng cảm

3.3.1. Các triệu chứng khởi phát

Bảng 3.9. So sánh các triệu chứng báo hiệu khởi phát giai đoạn hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần.

Triệu chứng

 

HC có loạn thần (n=45)

HC không loạn thần (n=22)

Tổng số

(n= 67)

n

%

n

%

n

%

Giảm nhu cầu ngủ

45

100,0

22

100,0

67

100,0

Khó đi vào giấc ngủ

43

95,5

17

77,27

60

89,55

Mất ngủ dai dẳng

8

17,7

6

27,27

14

20,90

Khí sắc tăng

36

80,0

14

63,64

48

71,64

Ham muốn thích thú tăng

9

20,0

5

22,73

14

20,90

Nhiều kế hoạch, sáng kiến

29

64,4

11

50,00

40

59,70

Tăng hoạt động

35

77,7

15

68,18

50

74,63

Cảm giác thoải mái, lạc quan

33

73,3

12

54,55

45

67,16

 - Giảm nhu cầu ngủ gặp ở 100% bệnh nhân ở giai đoạn khởi phát hưng cảm.

 - Khó đi vào giấc ngủ 89,55% số bệnh nhân, triệu chứng này thấy nhiều ở các bệnh nhân hưng cảm có loạn thần so với hưng cảm không có loạn thần (95,5% và 77,27%).

 - Mất ngủ dai dẳng gặp 20,90% số bệnh nhân, trong đó bệnh nhân không loạn thần chiếm tỷ lệ cao hơn (27,27% so với 17,7%).

 - Tăng hoạt động là triệu chứng thường gặp (74,63%), không có sự khác biệt giữa hai nhóm loạn thần và không loạn thần. Khí sắc tăng thường kèm theo tăng hoạt động chiếm tới 71,64% các trường hợp.

 - Các biểu hiện khác như nhiều kế hoạch sáng kiến, cảm giác thoải mái lạc quan chiếm hơn một nửa trong số bệnh nhân nghiên cứu ở cả hai nhóm.

3.3.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn hưng cảm

3.3.2.1. Các rối loạn cảm xúc, hoạt động

Bảng 3.10.  So sánh các triệu chứng HC có loạn thần và không có loạn thần giai đoạn toàn phát

Triệu chứng

 

HC có loạn thần (n=45)

HC không loạn thần (n=22)

Tổng số

(n=67)

n

%

n

%

n

%

Khoái cảm

17

37,8

12

54,5

29

43,3

Nhiều ý tưởng

35

77,8

15

68,2

50

74,6

Nói nhiều, không cưỡng được

30

66,7

9

40,9

39

58,2

Nói có vần điệu, chơi chữ

13

28,9

4

18,2

17

25,4

Can thiệp vào việc người khác

30

66,7

9

40,9

39

58,2

Hành vi gây rối, bạo lực

12

26,7

3

13,6

15

22,4

Mua bán chi tiêu nhiều

28

62,2

12

54,5

40

59,7

Trang phục sặc sỡ

8

17,8

4

18,2

12

17,9

Nhẩy múa

20

44,4

5

22,7

25

37,3

Làm ồn ào, náo nhiệt

32

71,1

10

45,5

42

62,7

Liên hệ với bạn cũ

21

46,7

9

40,9

30

4,7

Kịch tính, phô trương

10

22,2

2

09,1

12

17,9

Kém kiềm chế

24

53,3

5

22,7

29

43,3

- Phần lớn các bệnh nhân có biểu hiện nhiều ý tưởng, liên tưởng nhanh ở cả hai nhóm hưng cảm có loạn thần và hưng cảm không có loạn thần (74,6%).

- Các triệu chứng kém kìm chế, hành vi gây rối, bạo lực, kịch tính, phô trương gặp ở hưng cảm có loạn thần nhiều hơn gấp đôi so với hưng cảm không có loạn thần.

- Các triệu chứng như làm ồn ào náo nhiệt, mua bán chi tiêu nhiều, nói nhiều không cưỡng được gặp ở cả hai nhóm hưng cảm có loạn thần và hưng cảm không có loạn thần với tỷ lệ đương nhau.

3.3.2.2. Các rối loạn loạn thần

Bảng 3.11. Hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân hưng cảm có loạn thần (n=45)

Hoang tưởng

n

%

Hoang tưởng bị hại

07

15,6

Hoang tưởng bị theo dõi

04

8,9

 Hoang tưởng được yêu

04

8,9

Hoang tưởng tự cao, phát minh

37

82,2

- Các triệu chứng loạn thần trong số các bệnh nhân nghiên cứu chủ yếu là hoang tưởng tự cao, phát minh chiếm 82,2%.

- Các triệu chứng loạn thần khác như: hoang tưởng bị hại, bị theo dõi, được yêu chiếm từ 8,9% đến 15,6%. Các triệu chứng này xuất hiện không liên tục, khi được điều trị bằng các thuốc chống loạn thần thì nhanh chóng mất đi.

Bảng 3.12. Thời gian điều trị hết hoang tưởng (n=45)

Thời gian

n

%

< 7 ngày

12

26,7

7 - 14 ngày

23

51,1

14 – 21 ngày

7

15,5

> 21 ngày

3

6,7

Trung bình

14,25 ± 8,75

- Thời gian điều trị hết hoang tưởng từ 7 - 14 ngày chiếm cao nhất 51,1%

- Kéo dài trên 21 ngày chỉ gặp 3 trường hợp (6,7%).

- Thời gian điều hết hoang tưởng trung bình: 14,25 ± 8,75

Bảng 3.13. Ảo giác ở bệnh nhân hưng cảm có loạn thần (n=45)

Ảo giác

n

%

Ảo thanh tiếng nói không rõ nội dung

2

4,4

Ảo thanh khen ngợi

5

11,2

Ảo thanh bình phẩm

4

8,8

Tổng số

11

24,4

- Ảo thanh khen ngợi gặp 11,2%.

- Ảo thanh tiếng nói không rõ nội dung gặp 2 trường hợp (4,4%).

Bảng 3.14. Thời gian điều trị hết ảo giác (n=11)

Thời gian

n

%

< 7 ngày

3

27,3

7 – 14 ngày

6

54,5

> 14 ngày

2

18,2

Trung bình

10,27 ± 9,33

-  Thời gian điều trị hết ảo giác từ 7 – 14 ngày chiếm 54,5%.

- Chúng tôi chỉ gặp 2 trường hợp ảo giác kéo dài trên 2 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị.

- Thời gian điều trị hết ảo giác trung bình: 10,27 ± 9,33.

3.3.2.3. Thời gian điều trị, thời gian kéo dài giai đoạn hưng cảm

Bảng 3.15.  So sánh ngày điều trị trung bình và thời gian kéo dài cơn của giai đoạn hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần.

                        Hưng cảm

Đặc điểm

Không loạn thần (n=22)

Có loạn thần

(n=45)

Trung bình

P

Ngày điều trị trung bình

24,38 ± 11,2

40,3 ± 32,2

35,2 ± 28,3

 

p < 0,05

 

Thời gian kéo dài cơn (ngày)

44,3 ± 21,1

56,8 ± 28,0

52,9 ± 26,6

p < 0,05

- Ngày điều trị trung bình giai đoạn hưng cảm không có triệu chứng loạn thần là 24,38 ± 11,2 ngày, có triệu chứng loạn thần 40,3 ± 32,2 ngày. Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 

- Thời gian kéo dài cơn ở nhóm hưng cảm không có loạn thần là 44,3 ± 21,1 ngày, ngắn hơn so với nhóm hưng cảm có loạn thần 56,8 ± 28 ngày, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 

3.3.2.4. Thời gian ổn định

Bảng 3.16.  So sánh thời gian ổn định của giai đoạn hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần (n = 67).

 

Thời gian ổn định (năm)

Không loạn thần (n=22)

Có loạn thần

(n=45)

Trung bình

P

Lần 1

4,71 ± 3,85

3,86 ± 3,04

4,13 ± 3,12

p > 0,05

Lần 2

3,71 ± 3,34

3,42 ± 3,12

3,56 ± 3,23

Lần 3

2,11 ± 1,26

2,28 ± 1,45

2,23 ± 1,38

- Hưng cảm có loạn thần và hưng cảm không có triệu chứng loạn thần với thời gian ổn định giữa các giai đoạn bệnh lần thứ nhất đến lần thứ ba có sự rút ngắn rõ rệt.

- Trung bình lần đầu ổn định trên 4 năm, đến ổn định lần thứ ba chỉ là 2,23 năm ở cả hai nhóm. Thời gian ổn định giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p > 0,05.

 

3.3.2.5. So sánh điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc với thời gian thuyên giảm bệnh

Bảng 3.17. So sánh điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc với thời gian thuyên giảm bệnh (tuần).

                      Thời gian hồi phục

Thuốc

Trung bình

Ngắn nhất

Dài nhất

n

Thuốc chỉnh khí sắc

4,47 ± 0,90

3

6

19

Không dùng thuốc chỉnh khí sắc

5,85 ± 1,83

2

10

47

p < 0,05

- Ở nhóm bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc thì thời gian hồi phục 4,47 ± 0,90 tuần nhanh hơn nhóm không điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc (5,85 ± 1,83) tuần.

- Trong đó thời gian điều trị dài nhất ở nhóm không dùng thuốc chỉnh khí sắc kéo dài tới 10 tuần, nhóm dùng kết hợp chỉnh khí sắc kéo dài nhất là 6 tuần.

 

3.3.2.6. So sánh kết hợp điều trị thuốc an thần kinh và thuốc chỉnh khí sắc

Bảng 3.18. So sánh kết hợp điều trị thuốc an thần kinh và thuốc chỉnh khí sắc

Thuốc (mg)

Dùng thuốc chỉnh khí sắc

Không dùng thuốc chỉnh khí sắc

Tổng số

n

Trung bình

n

Trung bình

n

Trung bình

Haloperidol

4

13,33 ± 4,1

13

17,1 ± 23,7

17

15,50 ± 17,6

Aminazin

4

179,2 ± 166,1

9

161,0 ± 124,7

13

167,8 ± 136

Tisercin

6

118,75 ± 71,65

19

100,0 ± 35,4

25

108,33 ± 53,6

Risperdal

2

2,0 ± 0,0

4

2,0 ± 0,0

6

2,0 ± 0,0

Olanzapin

3

16,67 ± 5,77

2

20,0 ± 0,0

5

18,0 ± 4,47

p > 0,05

- Liều dùng trung bình của Haloperidol ở nhóm kết hợp với thuốc chỉnh khí sắc (13,33 ± 4,1) thấp hơn so với nhóm chỉ dùng an thần kinh đơn thuần (17,1 ± 23,7) nhưng sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

- Các thuốc khác không có sự khác biệt có ý nghĩa về liều dùng giữa hai nhóm.

3.4. Đặc điểm lâm sàng RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm

Trong số 67 bệnh nhân được nghiên cứu, chỉ có 07 bệnh nhân được chẩn đoán RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa mặc dù theo các y văn tỷ lệ các giai đoạn trầm cảm và giai đoạn hưng cảm là tương đương. Kết quả nghiên cứu thấy có các đặc điểm như sau:

3.4.1. Các biểu hiện khởi phát

Kết quả nghiên cứu thấy có các đặc điểm như sau:

Bảng 3.19.  Các triệu chứng báo hiệu khởi phát giai đoạn trầm cảm (n = 7)

Triệu chứng

n

%

Buồn rầu, ủ rũ

3/7

42,86

Mệt mỏi, suy nhược

3/7

42,86

Khó tập trung chú ý

5/7

71,43

Giảm hoạt động

3/7

42,86

Khó khăn trong quan hệ gia đình, xã hội

3/7

42,86

Khí sắc giảm

3/7

42,86

Ít giao tiếp

3/7

42,86

- Khó tập trung chú ý là triệu chứng hay gặp nhất chiếm 5/7 BN trong thời kỳ nằm viện.

- Buồn rầu, khí sắc giảm, giảm hoạt động đều gặp 3/7 bệnh nhân ở giai đoạn trầm cảm.

3.4.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của RLCXLC giai đoạn trầm cảm

* Các triệu chứng đặc trưng, phổ biến của giai đoạn trầm cảm.

Bảng 3.20.  Các triệu chứng hiện tại giai đoạn trầm cảm

Triệu chứng (n = 7)

n

%

Khí sắc trầm

5/7

71,43

o       Mất mọi quan tâm thích thú

5/7

71,43

o       Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi

6/7

85,71

o       Giảm tập trung chú ý

7/7

100

o       Giảm tự trọng

7/7

100

o       ý tưởng bị tội

2/7

28,57

o       ý tưởng không xứng đáng

1/7

14,28

o       Bi quan về tương lai

3/7

42,85

o       Giảm ngon miệng

6/7

85,71

o       Mất ngủ

7/7

100

o       Lo âu

5/7

71,43

- Rối loạn giấc ngủ là triệu chứng gặp ở tất cả các bệnh nhân, với đặc điểm là mất ngủ gần như hoàn toàn, một số bệnh nhân không ngủ được nhiều đêm liền, nếu ngủ được thì chỉ ngủ một giấc ngủ ngắn và ngủ nông, dễ tỉnh giấc.

- Dấu hiệu bi quan về tương lai gặp 3 trong 7 bệnh nhân ở giai đoạn trầm cảm. Ý tưởng không xứng đáng chỉ gặp ở 1 trường hợp trong số các bệnh nhân được nghiên cứu.

3.5. Các yếu tố liên quan đến tái phát bệnh

3.5.1. Thời gian ổn định theo thể bệnh

Bảng 3.21. Thời gian ổn định theo thể bệnh

Thể bệnh

Thời gian ổn định (năm)

p

Lần 1

Lần 2

Lần 3

F31.0

7

8

-

-

F31.1

5,95

4,46

2,1

p > 0,05

F31.2

5,04

3,86

2,29

F31.3

3,28

2

1

F31.6

1

1

-

-

Trung bình

4,82

3,89

2,19

-

p

p > 0,05

 

- Giai đoạn HC nhẹ có thời gian ổn định kéo dài nhất: 7- 8 năm. Giai đoạn hỗn hợp là 1 năm. Trung bình thời gian ổn định ngắn dần từ 4,82 năm lần thứ nhất tới 2,19 năm ở lần thứ ba.

3.5.2. Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu

Biểu đồ 3.3  Các yếu tố liên quan.

 - Điều trị không đều chiếm tới 79,7%; Học tập và làm việc căng thẳng là yếu tố liên quan đến tái phát bệnh thường gặp nhất 18,9%. Người thân gia đình mất gặp 2 trường hợp (2,7%).

3.5.3. Tiền sử gia đình có bệnh tâm thần

Bảng 3.22. Mối liên quan với gia đình có người bị rối loạn tâm thần.

Chẩn đoán

n

%

RLCX

2

2,7

TTPL

3

4,1

Loạn thần khác

9

12,1

Tổng số

14

18,9

- Các rối loạn tâm thần khác chiếm 12,1%.  Rối loạn cảm xúc là 2,7%.

  IV. BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

- Nhóm tuổi từ 20 – 49 tỷ lệ là 82,09% là độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất. Dưới 20 tuổi 07,46% và trên 50 tuổi là 10,45%.

- Bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 34,33%, nữ chiếm 65,67%. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả [7] là RLCXLC gặp nhiều ở nữ so với nam với tỷ lệ 2/1.

- Tỷ lệ RLCXLC có trình độ văn hoá tiểu học: 05,97%, trung học cơ sở: 38,81%.

- Tỷ lệ bệnh nhân là nông dân tương đối cao là 35,81%, viên chức là 17,91%, buôn bán là 14,93% và cán bộ nghỉ hưu thấp nhất chỉ 02 trường hợp là 02,99%.

- Chưa kết hôn (là 37) chiếm tỷ lệ 55,22%; đã kết hôn (là 30): 44,78%, trong số 30 tường hợp đã có gia đình có 07 trường hợp ly hôn chiếm tỷ lệ 23,33%, trong đó 2/7 trường hợp là nam và 5/7 là nữ, các trường hợp ly hôn đều đang ở độ tuổi 30 - 40 kết quả này cho thấy có thể bệnh nhân bị bệnh là nguyên nhân dẫn tới rạn nứt cấu trúc gia đình; tỷ lệ ly thân chỉ có 1 trường hợp (03,33%).  

4.2. Đặc điểm lâm sàng

4.2.1. Tuổi phát bệnh.

- Tuổi phát bệnh lần đầu chủ yếu ở lứa tuổi trước 20 là 40,30%, trong đó ở nữ cao hơn nam (50 % so với 21,74%). Có tới 47/67 bệnh nhân (70,15%) phát bệnh lần đầu ở lứa tuổi trước 30. Tuổi càng cao khởi phát bệnh giữa hai giới là tương đương nhau (phát bệnh ở tuổi >50 chỉ có 1 trường hợp cho mỗi giới, tỷ lệ 2,99%). Theo Weissmann và cộng sự (1988), tuổi trung bình của RLCXLC là 21 tuổi [8].

- Sự phân bố tuổi, giới phát bệnh lần hai cho thấy thời điểm phát bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 đến 29 tuổi cả hai giới nam và nữ  chiếm tỷ lệ 34,78% và 52,27%.

4.2.2. Số cơn đã mắc.

Nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân mắc 4 cơn là 20,89%, những bệnh nhân mắc hai cơn chỉ gặp 14,93%, số đã mắc trên 5 cơn chiếm tới 16,42%. Các bệnh nhân RLCXLC đã mắc 3 cơn là nhiều nhất chiếm 31,34%. Số mắc từ 4 cơn trở lên là 36 bệnh nhân (53,73%), điều này cho thấy điểm đặc trưng của RLCXLC là tái phát theo chu kỳ, giữa các giai đoạn là thời gian ổn định, bệnh nhân vẫn có thể học tập và công tác được.

3.2.3. Ý tưởng và hành vi tự sát.

Trong đó có 4 bệnh nhân có hành vi tự sát, các ý tưởng và hành vi tự sát đều ở giai đoạn trầm cảm trong tiền sử. Các bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm có các biểu hiện ý tưởng và hành vi tự sát với các hành vi tự sát rất đa dạng như: uống thuốc sâu 2 trường hợp, thắt cổ, dùng dao cắt mạch máu cổ tay gặp 1 trường hợp cho mỗi loại.

Từ những ý tưởng tự sát luôn thôi thúc dẫn đến hành vi tự sát. BN có thể thực hiện hành vi tự sát bất kỳ lúc nào và khó lường trước được. Điều này cho thấy tự sát là một triệu chứng thường gặp và rất nguy hiểm, là nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân RLCXLC.

4.3. Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC giai đoạn hưng cảm.

4.3.1. Các triệu chứng khởi phát

Ở giai đoạn khởi phát, tất cả các bệnh nhân (100%) hưng cảm có các triệu chứng loạn thần và không có triệu chứng loạn thần có biểu hiện giảm nhu cầu ngủ. Như vậy triệu chứng giảm nhu cầu ngủ là dấu hiệu sớm ở giai đoạn này, kèm theo là tăng hoạt động 74,63%, khí sắc tăng 71,64% (bảng 3.9). Đây chính là các triệu chứng đặc trưng của một giai đoạn hưng cảm.

4.3.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn hưng cảm.

4.3.2.1. Các rối loạn cảm xúc, hoạt động.

Các triệu chứng thường gặp giai đoạn toàn phát của RLCXLC giai đoạn hưng cảm trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.10) là bệnh nhân có nhiều ý tưởng chiếm 74,6%, làm ồn ào náo nhiệt 62,7%, mua bán chi tiêu nhiều 59,7%. Đây là triệu chứng đặc trưng cho hội chứng hưng cảm từ lâu đã được các tác giả mô tả [1].

Tỷ lệ các triệu chứng thời kỳ toàn phát giữa hai nhóm có loạn thần và không loạn thần khác nhau: Có nhiều ý tưởng (77,8% và 68,2%), làm ồn ào náo nhiệt (71,1% và 45,5%), mua bán chi tiêu nhiều (62,2% và 54,5%), không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm ở những triệu chứng này. Triệu chứng kém kiềm chế (53,3% và 22,7%), hành vi gây rối, bạo lực (26,7% và 13,6%), có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần. Những bệnh nhân ở giai đoạn này rất cần được phát hiện và điều trị sớm đồng thời cần được quản lý tốt để tránh gây nên những thiệt hại cho bản thân và những người xung quanh.

4.3.2.2. Các rối loạn loạn thần.

Trong số 45 bệnh nhân RLCXLC giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (bảng 3.11) chúng tôi thấy 37 BN (82,2%) có hoang tưởng tự cao, phát minh. Nội dung hoang tưởng thường phù hợp với khí sắc, cảm xúc, hành vi của bệnh nhân.

Có 11 bệnh nhân (24,4%) có ảo thanh. Có 5/11 bệnh nhân có ảo thanh với nội dung khen ngợi (11,1%), phù hợp với khí sắc, cảm xúc hưng phấn của bệnh nhân ở giai đoạn hưng cảm. Chúng tôi không thấy trường hợp nào có ảo thanh bình luận, sai khiến. Sự khác biệt này có thể là căn cứ để chẩn đoán phân biệt với bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc loại hưng cảm.

 4.4. Đặc điểm lâm sàng RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm.

4.4.1. Các biểu hiện khởi phát.

Trong số 67 bệnh nhân được nghiên cứu, chỉ có 07 bệnh nhân được chẩn đoán RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa mặc dù theo các y văn tỷ lệ các giai đoạn trầm cảm và giai đoạn hưng cảm là tương đương. Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy dấu hiệu thường gặp nhất là sự giảm tập trung chú ý (71,43%), biểu hiện sớm này gây ảnh hưởng không tốt đến công việc, dễ có nhầm lẫn, sai sót trong công việc. Tiếp theo là các biểu hiện buồn rầu, khí sắc giảm, mệt mỏi suy nhược, giảm hoạt động, ít giao tiếp (cùng chiếm tỷ lệ 42,86%). Các biểu hiện này thường xuất hiện từ từ và nặng dần trong khoảng 1 tuần, Goldman (2004) cũng có nhận định như vậy [6]. Như vậy, các biểu hiện trên có thể coi như những chỉ báo cho sự khởi đầu hoặc tái phát cho một giai đoạn trầm cảm trong RLCXLC. 

4.4.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn trầm cảm.

Bảng 3.4 cho thấy 5/7 bệnh nhân có khí sắc trầm, 5/7 bệnh nhân có triệu chứng mệt mỏi giảm quan tâm thích thú và 6/7 bệnh nhân có biểu hiện giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi. Điều này phù hợp với chẩn đoán của tất cả 7 bệnh nhân nghiên cứu thuộc mã F31.3 là RLCXLC giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa.

Rối loạn giấc ngủ với đặc điểm là mất ngủ gần như hoàn toàn, một số bệnh nhân không ngủ được nhiều đêm liền, nếu ngủ được thì chỉ ngủ một giấc ngủ ngắn và ngủ nông, dễ tỉnh giấc, khi thức dậy bệnh nhân thấy mệt mỏi rã rời và không muốn vận động, làm việc gì cũng thấy mệt mỏi.

Các triệu chứng phổ biến cũng được thấy ở bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm nhưng với tỷ lệ thấp hơn, dấu hiệu bi quan về tương lai, ý tưởng không xứng đáng gặp 3/7 bệnh nhân, đây là triệu chứng rất cần được chú ý trên lâm sàng vì liên quan đến ý tưởng và hành vi tự sát của người bệnh trong giai đoạn trầm cảm.

4.5. Các yếu tố liên quan đến tái phát bệnh và tiến triển của bệnh.

4.5.1. Thời gian ổn định theo thể bệnh.

Thời gian ổn định giữa các thể có sự khác nhau: RLCXLC giai đoạn hưng cảm không có triệu chứng loạn thần, thời gian ổn định ở lần 1 là 5,95 năm trong khi giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn thần là 5,04 năm và RLCXLC giai đoạn trầm cảm là 3,28 năm, tuy nhiên sự khác biệt này là không lớn. Điều này cho phép chúng ta rút ra nhận xét là thời gian ổn định giữa các cơn không phụ thuộc nhiều vào các thể bệnh của RLCXLC. Giai đoạn HC nhẹ có thời gian ổn định kéo dài nhất: 7- 8 năm. Giai đoạn hỗn hợp là 1 năm. Trung bình thời gian ổn định ngắn dần từ 4,82 năm lần thứ nhất tới 2,19 năm ở lần thứ ba.

Tần số giữa các cơn ngày càng tăng và thời gian ổn định giữa các cơn càng ngày càng ngắn, dẫn đến một giai đoạn loạn khí sắc kéo dài gây tàn phế nặng nề cho người bệnh.

4.5.2. Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu.

Học tập và làm việc căng thẳng là yếu tố liên quan đến tái phát bệnh thường gặp nhất (18,9%). Các yếu tố khác liên quan đến tái phát bệnh là bệnh lý cơ thể (5,4%), người thân mất (2,7%). Lạm dụng rượu chiếm 14,9% và chỉ gặp ở nam giới.

4.5.3. Tiền sử gia đình có bệnh tâm thần.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 14 trường hợp (18,9%) có người thân trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị, em) mắc các bệnh tâm thần trong đó 2 trường hợp rối loạn cảm xúc, 3 trường hợp TTPL và 9 trường hợp mắc các bệnh loạn thần khác. Đây là một tỷ lệ cao so với tỷ lệ này trong dân số. Một số nghiên cứu gần đây đưa ra tỷ lệ khoảng 40% đối với trẻ sinh đôi cùng trứng và dưới 10% đối với trẻ sinh đôi khác trứng (Kieseppa, 2004 và Cardno, 1999) [8], Craddock N; Davé S; Greening J. (2001) [5].

 V. KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc lưỡng cực:

- Tuổi phát bệnh lần đầu chủ yếu ở lứa tuổi trước 20 là 40,30%. Số bệnh nhân mắc 4 cơn là 20,89%, mắc hai cơn chỉ gặp  14,93%, số BN đã mắc trên 5 cơn chiếm tới 16,42%.

- Ở giai đoạn khởi phát, tất cả các BN hưng cảm có các triệu chứng loạn thần và không có triệu chứng loạn thần có biểu hiện giảm nhu cầu ngủ (100%), kèm theo là tăng hoạt động 74,63%, khí sắc tăng 71,64%. Đây chính là các triệu chứng đặc trưng của một giai đoạn hưng cảm.

- Giai đoạn toàn phát biểu hiện bằng các triệu chứng loạn thần trong đó chủ yếu là hoang tưởng tự cao 83,2%, nhiều ý tưởng 74,6%, gây ồn ào náo nhiệt là 62,7%, mua bán chi tiêu không hợp lý 59,7%; nói nhiều không cưỡng được và thích can thiệp vào các công việc của người khác chiếm 58,2%.

- Các triệu chứng khởi phát RLCXLC giai đoạn trầm cảm thường biểu hiện khó tập trung chú ý 71,43%, mệt mỏi suy nhược 42,86%. Giai đoạn toàn phát biểu hiện bằng giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi dẫn đến giảm hoạt động gặp 6/7 bệnh nhân (85,71%), khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú gặp ở 5/7 bệnh nhân (71,43%).

- Các triệu chứng phổ biến cũng rất thường gặp: rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung chú ý gặp 7/7 trường hợp (100%), giảm ngon miệng gặp 6/7 trường hợp (85,71%). Triệu chứng lo âu cũng rất thường thấy ở các bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm (71,43%).

2. Các yếu tố liên quan tái phát bệnh.

Một số yếu tố liên quan đến tái phát:

+ Điều trị không đều chiếm tới 79,7%;

Học tập, làm việc căng thẳng thường gặp nhất chiếm 18,9%,

+ lạm dụng rượu chiếm tỷ lệ 14,9%,

+ Bệnh lý cơ thể (5,4%), người thân mất (2,7%).

+ Bệnh nhân có người thân mắc bệnh tâm thần là 18,9%,

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Viết Nghị (2006), “Rối loạn lưỡng cực”. Hội thảo chuyên đề chẩn đoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006, Tr 3 - 5.

2. Nguyễn Viết Thiêm; Lã Thị Bưởi (2001), “Rối loạn cảm xúc”, Bài giảng dành cho sau Đại học - Bộ môn Tâm thần - Đại học Y Hà Nội, Tr 51 - 75.

3. Trịnh Ngọc Tuân, Trần Viết Nghị và cộng sự (2002), “Cơ cấu bệnh lý ở bệnh nhân nội trú viện sức khỏe tâm thần”. Công trình NCKH 2001- 2002, Bệnh viện Bạch Mai. Tr 220 - 232.

4. Brown E.S. (2005), “Bipolar Disorder and Substance Abuse” Psychiatric clinics of north America: 28: P 415 - 425.

5. Craddock N; Davé S; Greening J. (2001)“Association studies of bipolar disorder” Munksgaard, 2001. Bipolar Disord 2001: 3: P 284 - 298.

6. Goldman (2004), “Depression and suicidality” Cecil Textbook of Medicine, 22nd edition W. B. Saunder Company. P 2213- 2216.

7. Lorente M.D. (2000), “Mood disorders”, Kelly;s Textbook of Internal Medicine, 4th edition. Lippincot Williams & Wilkins. P 247- 251.

8. Tohen.M; Angst. J (2002), “Epidemiology of Bipolar Disorder” Textbook in Psychiatric Epidemiology. Second edition. P 427- 440.

9. Tyrer. P; Tyrer. F (2002) “Public mental health” Oxford Textbook of Public health, 4th Edition. P 1310 – 1325.

10. Eduard Vieta (2007), “Xử trí rối loạn lưỡng cực trong thực hành lâm sàng” do PGS.TS.BS Nguyễn Kim Việt chủ nhiệm Bộ môn tâm thần-Trường Đại học Y Hà Nội và TS.BS Ngô Tích Linh Phó chủ nhiệm Bộ môn tâm thần-Trường Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh biên dịch sang Tiếng Việt.

11. Phan Văn Tiếng (2010), “Đặc điểm lâm sàng cơn Hưng cảm có loạn thần trong Rối loạn cảm xúc lưỡng cực ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện tâm thần TW2”.

 

 

 

Bài viết liên quan